User Tools

Site Tools


4264--natri-tetracacbonylferatla-gi

Natri tetracacbonylferat là hợp chất hóa học có công thức Na2[Fe(CO)4]. Chất rắn không màu nhạy với oxi này được dùng trong tổng hợp hóa hữu cơ,[1] để tổng hợp anđehit.[2] Nó thường dùng với phức đioxan của cation natri, dung môi đioxan này còn được biết dưới tên thuốc thử Collman.[3] Anion tetracacbonylferat có dạng tứ diện.[4]

Thuốc thử đã được báo cáo bởi Cooke vào năm 1970.[5] Phản ứng tổng hợp gần đây là phản ứng khử sắt pentacacbonyl trong tetrahiđrofuran bởi natri naphthenua. Hiệu suất của phản ứng phụ thuộc vào chất lượng của sắt cacbonyl.[1]

Fe(CO)5 + 2 Na → Na2[Fe(CO)4] + CO

Nếu thiếu natri xẽ xảy ra phản ứng tạo thành Natri octacarbonyl diferrat :

2 Fe(CO)5 + 2 Na → Na2[Fe2(CO)8] + 2 CO

Một số chất khử khác cũng được sử dụng như FeCl3 để tạo thuốc thử Collman:

FeCl3 + Na(C10H8) + 4CO + THF → +Na → Na2[Fe(CO)4]

Chất này được mô tả đầu tiên cho phản ứng chuyển đổi ankyl bromua bậc một, RBr, thành anđehit tương ứng theo phản ứng 2 bước:[5]

Na2[Fe(CO)4] + RBr → Na[RFe(CO)4] + NaBr

Dung dịch này sau đó được xử lý liên tục với PPh3 và axit axetic để thu được anđehit, RCHO.

Natri tetracacbonylferat có thể dùng để biến đổi clorua axit thành anđehit. Về khám phá của Cooke, một phức sắt axyl trải qua quá trình chuyển proton thành anđehit.

Na2[Fe(CO)4] + RCOCl → Na[RC(O)Fe(CO)4] + NaCl
Na[RC(O)Fe(CO)4] + HCl → RCHO + "Fe(CO)4" + NaCl

Natri tetracacbonylferat phản ứng với ankyl halogenua (RX) để tạo phức ankyl:

Na2[Fe(CO)4] + RX → Na[RFe(CO)4] + NaX

Các sắt ankyl trên có thể biến đổi thành các axit cacboxylic và các halogenua axit tương ứng:

Na[RFe(CO)4] + O2, H+ →→ RCO2H + Fe...
Na[RFe(CO)4] + X2 → RC(O)X + FeX2 + 3 CO + NaCl

Một điều chú ý của các phương pháp trên đây là giá thành rẻ của sắt cacbonyl cũng như các thủ tục cũng tương đối "xanh" vì các phụ phẩm là các gốc của sắt.

  1. ^ a ă Strong, H.; Krusic, P. J.; San Filippo, J. (1990). Robert J. Angelici, biên tập. “Natri cacbonyl ferat, Na2Fe(CO)], Na2[Fe2(CO)8], và Na2[Fe3(CO)11]. bis[μ-Nitrido-bis(triphenylphotpho)(1+] Unđecacacbonyltriferat(2-), [(Ph3P)2N]2[Fe3(CO)11]”. Inorganic Syntheses. Inorganic Syntheses (New York: J. Wiley & Sons) 28: 203–207. ISBN 0-471-52619-3. doi:10.1002/9780470132593.ch52. 
  2. ^ Pike, Robert D., (2001). Natri tetracacbonylferat (II-). Bách khoa toàn thư về tác nhân cho tổng hợp hữu cơ.
  3. ^ Miessler, G. L., Tarr, D. A. (2004). Hóa vô cơ. Upper Saddle River,New Jersey: Pearson Publication.
  4. ^ H. B. Chin, R. Bau (1976). “Cấu trúc tinh thể của natri tetracacbonylferat. Sự lệch vị trí của anion tetracacbonylferat(2-) ở dạng rắn”. J. Am. Chem. Soc. 98 (9): 2434–2439. doi:10.1021/ja00425a009. 
  5. ^ a ă M. P. Cooke (1970). “Sự chuyển đổi dễ dàng từ ankyl bromua thành anđehit nhờ natri tetracacbonylferat”. J. Am. Chem. Soc. 92 (20): 6080–6082. doi:10.1021/ja00723a056. 
4264--natri-tetracacbonylferatla-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:09 (external edit)