User Tools

Site Tools


3640--tr-n-vi-t-thla-gi

Trần Viết Thọ (1834? -?), tự: Sơn Phủ, hiệu: Điềm Tĩnh cư sĩ; là tu sĩ Tam giáo, và là quan nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

Trần Viết Thọ là người Thuận Xương, thuộc tỉnh Quảng Trị.

Năm Tân Mùi (1871) đời Tự Đức, ông thi đỗ Phó bảng, được bổ làm Tri huyện, rồi Tri phủ.

Biết tính ông chất phác, cương trực, Biện lý bộ Lại Nguyễn Hữu Độ và Tổng đốc Vũ Trọng Bình cùng đứng ra tiến cử, nên năm 1883, ông được chuyển về triều làm Chủ sự bộ Lại, sung Hành tẩu viện Cơ mật.

Ít lâu sau, ông mắc bệnh xin nghỉ, rồi vì lo phiền thời sự, ông không chịu ra làm quan nữa.

Tháng 5 năm Ất Dậu (tháng 7 năm 1885), cuộc phản công của phe chủ chiến ở Kinh thành Huế thất bại, Phụ chính Tôn Thất Thuyết phải phò vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị, xuống dụ Cần vương. Hưởng ứng, đông đảo quân ứng nghĩa xông lên chiếm lấy thành tỉnh Quảng Trị. Nghe biến, Trần Viết Thọ bèn tới "đem việc họa phúc ra phân giải, đảng ấy liền phân tán và bỏ đi. Quan quân nhân đó thu lại tỉnh thành"[1].

Đầu năm Đồng Khánh (1886), bổ ông làm Thị giảng học sĩ, lĩnh chức Án sát sứ tỉnh Quảng Nam. Sau phạm lỗi, chuyển ông làm Đốc học tỉnh ấy. Được hơn năm, triều đình nghĩ công ông "bài giải" vừa kể, nên lại bổ ông làm Thị giảng.

Thành Thái năm thứ 5 (1893), lấy cớ đã 59 tuổi [2], Trần Viết Thọ xin về hưu. Quan tỉnh Đào Hữu Ích cho là sĩ tử đang cần ông nên không cho, ông bèn gửi ấn rồi bỏ đi.

Về nhà, ông học môn tịch cốc (nhịn ăn để chuyên tu theo đạo Lão) nhưng không thành công. Sau đó, ông có chỉ cho truy phục hàm Thị giảng, và cho nghỉ dưỡng một vài năm. Một hôm, ông lại nghĩ đến việc tu, nên đến chùa Từ Hiếu ở Huế, xin xuất gia theo Phật. Tu ở đó, rồi sang tu ở chùa Diệu Đế [3], khá lâu sau, một hôm ông trở lại quê nhà, dựng am Cổ Tiên phụng thờ Tam giáo, và lập sẵn sinh phần (mộ xây sẵn) cho mình.

Không rõ năm nào, một đêm khuya, ông châm hương, ngồi xếp chân, rồi tự thiêu chết[4].

Theo Đại Nam chính biên liệt truyện thì ông có soạn quyển Báo quốc tự lục và vài quyển Chu gia thi văn.

Trần Viết Thọ dạy người ta lấy hai chữ "tiết tháo" làm đầu. Đương thời, nhiều học giả tôn ông làm thầy. Khi ông mất, hàng trăm nhà sư ở các chùa đến mở giới đàn đọc kinh sám nguyện đủ một tuần, và các quan ở kinh phần nhiều đều tới ai điếu [5]. Trong số các câu đối viếng, nổi bật có câu của Cao Xuân Dục:

Thông tịch lai hoạn hải thăng trầm, trận mộng dĩ tùy khôi kiếp hóa;
Giải tô hậu, Hương sơn lai vãng, não thành tính nhập hỏa khanh không.
Nghĩa là:
Khoa danh vào sổ, biển hoạn thăng trầm, trầm mộng đã theo hết với lửa.
Cỡi mũ về nhà, núi Hương qua lại, sầu thành dồn cả lửa lò không[6].
  1. ^ Theo Đại Nam chính biên liệt truyện (gọi tắt là "Chính biên"), tr. 996.
  2. ^ Căn cứ chi tiết này trong Chính biên, nên phỏng đoán ông sinh năm 1834 hoặc 1835.
  3. ^ Theo Chính biên (tr. 996). Theo bài viết về chùa Báo Quốc của J. A. LABORDE, tác giả người Pháp, đăng trên tạp chí Hội Đô thành Hiếu cổ (Bulletin des Amis du Vieux Hue) năm 1917, thì Trần Viết Thọ còn đến tu ở chùa Báo Quốc (Huế) [1].
  4. ^ Chính biên không ghi năm mất của Trần Viết Thọ.
  5. ^ Theo Chính biên, tr. 997.
  6. ^ Chép theo Chính biên, tr. 998.
3640--tr-n-vi-t-thla-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:09 (external edit)